Thứ Ba, ngày 13 tháng 5 năm 2014

CÂU CHUYỆN VỀ BIỂN ĐÔNG


Những câu chuyện về biển Đông, những bài thơ, lời tâm sự từ sâu thẳm tâm hồn là minh chứng cho tình yêu quê hương, biển đảo của người dân đất Việt.
Gửi con trai - đứa con sinh ra sẽ mang lòng yêu nước! (Xâm Phan):
"Gửi con trai yêu!
Mẹ mới 19 tuổi, ngày mẹ gặp con sẽ còn lâu lắm, nhưng mẹ muốn kể cho con nghe về câu chuyện biển Đông, về lòng yêu nước của một dân tộc quật cường.
Có phải con đang thắc mắc tại sao mẹ lại viết thư cho con khi mà ngày chúng ta nhìn thấy nhau vẫn chưa thể xác định? Bởi vì trong suốt nhiều ngày nay, đất nước mà mẹ thương yêu đang đứng trước những mối xung đột khá nghiêm trọng về lãnh thổ biển với Trung Quốc - đất nước luôn có ý định thôn tính cả vùng biển Đông rộng lớn.
Nghe nhé con yêu! Mẹ muốn kể con nghe câu chuyện về lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, ý chí quật cường của quê hương mẹ, mà sau này cũng là đất nước, là quê hương của con.
Không có gì khó hiểu đâu con, con cứ lặng yên, dùng trái tim mà đọc nhé. Bởi mẹ nói về thứ tình yêu mà đã mang dòng máu của dân tộc Việt. Và con cũng vậy, mẹ kể để khi con sinh ra trong con đã mang sẵn tấm lòng yêu nước thủy chung.
Con biết biển Đông không, con biết Trường Sa, Hoàng Sa không? Dù con không ở đây nhưng rồi con sẽ biết vì đó là đất nước tương lai của con. Máu của ông cha ta đã chảy thành sông, nước mắt của mẹ già, của vợ trẻ, của con thơ đã làm biển rộng dài.
Vết thương đạn bom trong đất còn chưa nguôi, nỗi đau chiến tranh, nỗi đau mất mát vẫn còn chất đầy. Đây đó, những đứa trẻ sinh ra vẫn phải chịu tật nguyền. Mỗi năm, ngày mà chúng ta kỷ niệm chiến thắng, quá khứ vẫn trỗi dậy hào hùng nhưng nhuốm đau thương.
Những ngày vừa qua, cả dân tộc Việt Nam lại sục sôi, tinh thần yêu nước của con người Việt lại trỗi dậy hơn bao giờ hết khi tàu Trung Quốc ngang nhiên tấn công tàu chúng ta trên biển Đông. Chính phủ chưa kêu gọi chiến đấu nhưng hàng triệu người đã sẵn sàng ra trận, sẵn sàng từ bỏ gia đình, sự nghiệp để cầm súng. Con có nhìn thấy không, những avatar chói ngời sắc đỏ sao vàng đang ngập tràn trên Facebook, những lá thư, bài thơ về Trường Sa, Hoàng Sa đang được lan truyền rộng rãi.
4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước sẽ khiến con tự hào biết bao về dân tộc của mình, đó cũng là lý do chúng ta sẽ chẳng sợ hãi trước bất cứ kẻ thù cướp nước nào, bất kể chúng lớn mạnh tới đâu.
Con yêu, hãy kể cho những người bạn của con, hãy nói cho họ biết dân tộc của chúng ta hào hùng như thế nào nhé. Mẹ tin ngày mà con đến với đất nước này, ngày con có thể tới với Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu, đất nước của chúng ta vẫn vững chãi như thế, biển đảo của chúng ta vẫn bình yên gợn sóng.
Mẹ đọc được những câu thơ thế này:
“Cuối tuần về quê cho anh nhắn đôi lời

Thưa với cha và thắp hương khấn mẹ
Anh vẫn vững vàng nơi biển đảo xa xôi...
Em hãy đưa điện thoại kề gần nôi
Để con chúng mình nghe tiếng của biển khơi
Anh không thể ẵm bồng ru con ngủ
Gửi tiếng biển về yên giấc con thôi...”
Cảm động lắm đúng không con? Mẹ cũng mong con trai của mẹ cũng có tấm lòng ấy đối với đất nước. Hãy biết hy sinh nhé con, đừng ích kỷ cho sự an toàn và ích lợi của bản thân mà làm ngơ trước tiếng gọi của Tổ quốc.
Hãy biết sống vì đại cuộc, hãy hết lòng vì dân tộc, hãy đền đáp cha ông bằng lòng gan dạ, dũng cảm, bằng tình yêu nặng sâu với đất nước. Nhớ nhé con yêu!"
 Những người lính ngày đêm canh giữ biển.
* Bài thơ mở đầu bằng câu thơ “Mẹ kể con nghe câu chuyện biển Đông” của tác giả Dương Phạm vết đêm 8/5/2014 - sau hơn 1 tuần Trung Quốc trắng trợn đặt giàn khoa trái phép trên vùng biển Việt Nam là lời tâm sự của người mẹ với con, lời nhắn nhủ với người dân Việt Nam anh hùng.

"Mẹ kể con nghe câu chuyện biển Đông
Xa tít ngoài khơi, vẫy vùng sóng dữ
Nơi những trái tim chẳng màng sinh tử
Nơi máu đỏ, da vàng vì nước quên thân
Trong ánh mắt con, mẹ thấy cả trời xanh
Bờ cát mênh mang và cánh diều chao liệng
Miệng hồng xinh, con nhoẻn cười thánh thiện
Chẳng giấc mơ nào có tàu chiến, thủy quân
Tình yêu này, khó đong, đếm, đo, cân
Chỉ biết là khi cả muôn người hướng về phía biển
Nghe kẻ hung hăng đưa giàn khoan, tàu ra hiếu chiến
Lại nhói lòng, thương nước, tim đau
Con ngủ bình yên, trong cuộc bể dâu
Mẹ thao thức, dõi từng tin bài mới
Không chỉ mẹ đâu, trăm triệu người ngóng đợi
Biển xa xôi, mà sóng dội về đây
Việt Nam ơi, hãy cùng nắm chặt tay
Ừ nước bé, nhưng hùng gan, bền chí
Quyết không để bọn ngoại bang khinh thị
Bốn ngàn năm phải giữ trọn biển đất này".
Còn nữa, còn nhiều lắm những bài thơ, bài ca về biển Đông, về người lính biển. Chỉ đôi dòng sẽ không thể nói hết được tình yêu của người lính biển, tình yêu của người Việt Nam đối với dân tộc. Tin rằng, tình yêu ấy sẽ tiếp thêm niềm tin, sức mạnh để góp phần bảo vệ chủ quyền nước nhà...
                                                                                     NGUYỄN HƯƠNG


NẾU TÔI LÀ NGƯỜI TRUNG QUỐC…!

Thời này là thời nào rồi?
Hỡi bọn người vô liêm sỉ!
Đi ăn cướp nhà người - Ừ thì có thể
Với sức mạnh trâu bò sẽ cướp được cái gì đó ở nhà bên
Nhưng xung quanh còn có láng giềng
Ngoài láng giềng còn có hàng xóm
Đã đến nỗi gì đâu mà các anh phải đánh mất sỹ diện
Lộ nguyên hình là một tên cướp hung hăng!
Tiếc cho nền văn hóa Trung Hoa năm ngàn năm
Lẽ trời, lẽ người, sách Lão, sách Khổng nghìn xưa đã dạy
Tứ thư, Ngũ kinh, Tứ tượng, Bát quái
Và nhiều đỉnh cao văn hóa, văn minh
Sao các anh nỡ đánh mất văn hóa của cha ông
Và hành động như những tên vô học!
Gia có gia phong, Quốc có quốc pháp
Sống trong trời đất phải biết ta, biết mình
Cả thế giới  đang hướng về một mái nhà chung
Có hay gì đâu thói hung hăng, bạo ngược!
Tôi vẫn tin, vẫn yêu những người dân Trung Quốc
Những người dân hiền lành bị khổ nạn triền miên
Nạn ấu trĩ tả khuynh, nạn nồi da nấu thịt
Nạn tham nhũng, nạn tham ô, nạn thông tin bưng bít
Nạn Hồng vệ binh, nạn đàn áp biểu tình
Nạn nghiến nát nhân dân dưới xích sắt xe tăng
Nạn Mao, nạn Đặng, nạn Giang Trạch Dân
Nạn sùng bái cá nhân, nạn kìm hãm tự do báo chí
Nạn xua quân lấn chiếm Biển Đông, nạn gây chiến tranh biên giới
Hỏi hơn nửa thế kỷ nay ở Trung Hoa dân đã sống thế nào?
Xin mời đọc “Phong nhũ phì đồn” của Mạc Ngôn sẽ rõ!
Từ đảo Cô-lin
Chúng tôi nhìn qua đảo Gạc Ma
Qua ống nhòm thấy rõ
Người Trung Quốc đang muốn gì ở biển Đông!
Chúng tôi neo tàu cách Gạc Ma chừng hai hải lý
Trước anh linh 64 chiến sỹ đã vì nước hy sinh
Chúng tôi thề cùng các anh sẽ bảo vệ chủ quyền biển đảo
Dù giặc mạnh, giặc đông
Nhưng cả nước đồng lòng
Sẽ chẳng có kẻ thù nào mà chúng ta không thắng nổi!
Các anh đã cướp Hoàng Sa khi chúng tôi còn đang chiến tranh với Mỹ
Món nợ cũ chưa trả xong các anh lại ngang nhiên xả súng chiếm Gạc Ma!
Và hôm nay
Khi tàu chúng tôi còn chưa cặp bờ
Lại nghe tin các anh kéo giàn khoan đặt cách bờ chúng tôi chỉ hơn trăm hải lý
Không thể đừng được nữa rồi
Đất nước Việt Nam ơi!
Giờ này
Tôi bỗng nhớ tới những người bạn của tôi
Những nhà thơ, nhà văn, những nghệ sỹ Trung Hoa chân chính
Chúng tôi muốn hòa bình. Chúng tôi yêu các bạn
Nhưng chúng tôi phải bảo vệ chủ quyền
Và nếu cần chúng tôi sẽ cầm súng
Chúng tôi cần ở các bạn một lời nói của lương tâm
Để ngăn chặn những toan tính ngông cuồng
Của những người cầm quyền từng làm khổ các bạn
Tránh cho dân lành hai nước chúng ta
Khỏi phải thêm một lần đổ máu
Bởi máu của nhân dân hai nước chúng ta đã đổ quá nhiều suốt hàng ngàn năm lịch sử
Nếu thắng được Việt Nam
Tổ tiên các bạn đã làm việc này từ cả ngàn năm trước!
Bạn ơi!
Những ngày này
Nếu tôi là người Trung Quốc
Tôi sẽ thấy nhục
Và xấu hổ vô cùng!

                                           8/5/2014
- Lê Huy Mậu


Mẹ kể con nghe...



Mẹ kể con nghe câu chuyện biển Đông
Xa tít ngoài khơi, vẫy vùng sóng dữ
Nơi những trái tim chẳng màng sinh tử
Nơi máu đỏ, da vàng vì nước quên thân

Trong ánh mắt con, mẹ thấy cả trời xanh
Bờ cát mênh mang và cánh diều chao liệng
Miệng hồng xinh, con nhoẻn cười thánh thiện
Chẳng giấc mơ nào có tàu chiến, thủy quân

Tình yêu này, khó đong, đếm, đo, cân
Chỉ biết là khi cả muôn người hướng về phía biển
Nghe kẻ hung hăng đưa giàn khoan, tàu ra hiếu chiến
Lại nhói lòng, thương nước, tim đau

Con ngủ bình yên, trong cuộc bể dâu
Mẹ thao thức, dõi từng tin bài mới
Không chỉ mẹ đâu, trăm triệu người ngóng đợi
Biển xa xôi, mà sóng dội về đây

Việt Nam ơi, hãy cùng nắm chặt tay
Ừ nước bé, nhưng hùng gan, bền chí
Quyết không để bọn ngoại bang khinh thị
Bốn ngàn năm phải giữ trọn biển đất này

Hà Nội đêm 8-5-2014

                                                                                           (Nguồn từ trên Febook)

TIẾNG BIỂN



(Gửi về đất liền và gia đình yêu thương)
Vợ yêu ơi em có nghe tiếng biển
Lúc gầm vang lúc rì rào tha thiết
Những ngày này trong mỗi người dân Việt
Tiếng biển cuộn trào, tiếng biển sục sôi...
Hậu phương đất liền yên tâm nhé vợ ơi
Cuối tuần về quê cho anh nhắn đôi lời
Thưa với cha và thắp hương khấn mẹ
Anh vẫn vững vàng nơi biển đảo xa xôi...
Em hãy đưa điện thoại kề gần nôi
Để con chúng mình nghe tiếng của biển khơi
Anh không thể ẵm bồng ru con ngủ
Gửi tiếng biển về yên giấc con thôi...
Em có nghe tiếng biển trong lòng người
Tiếng của hòa bình tiếng hạnh phúc vui tươi
Nhưng tàu giặc mà tấn công bờ cõi
Tiếng biển hiền hòa sẽ hóa tiếng ngư lôi...
Biển xanh yên lành đâu muốn máu đỏ rơi
Đảo nhỏ yêu thương chỉ mong tiếng biển cười
Đón bình minh mỗi ban mai ngày mới
Tiếng biển đêm về như tiếng mẹ à ơi...
Anh biết đất liền đang lo lắng khôn nguôi
Đâu riêng vợ yêu mà hàng triệu triệu người
Hướng về phía Đông lặng nghe tiếng biển
Mong bình yên cho tàu cá ra khơi...
Vợ yêu ơi...anh phải đi trực rồi
Phút chào nhau nhau tiếng biển bỗng mặn môi
Chiều nay nhé hết ca anh lại hẹn
Gọi để vợ nghe tiếng biển... tiếng yêu đời...
(Ngày 8-5-2014)
 Ý chí sắt đá
Bài thơ không lên gân, lên cốt; chứa chan tình nghĩa vợ chồng mà sâu thẳm là lòng yêu Tổ quốc, quê hương. Một lời tâm tình của Người lính biển quyết chiến và quyết thắng giữ vững biển, đảo Tổ quốc....và các Anh không đơn độc cả triệu con dân Việt cùng các Anh nơi đầu sóng ngọn gió. Thật tự hào về Anh - những Người lính mang quân phục màu xanh...
VÕ THÀNH HÙNG
Nguồn: Facebook Lính Biển Việt Nam


Thứ Tư, ngày 07 tháng 5 năm 2014

Tây Nam Bộ với chiến trường Điện Biên Phủ

                                                                                      Th.s Võ Thành Hùng                                                                                        Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ

1.      Đặt vấn đề
 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân Tây Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng quân dân cả nước nói chung tiến hành một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và giành được thắng lợi rực rỡ, làm thất bại nhiều kế hoạch chiến lược của thực dân Pháp.
Quân và dân Tây Nam Bộ với lòng dũng cảm và trí tuệ đã tìm ra nhiều cách đánh địch có hiệu quả, sáng tạo như: chia nhỏ lực lượng địch rải ra khắp chiến trường mà tiêu diệt sinh lực địch, hạn chế sự chi viện của chúng cho chiến trường Điện Biên Phủ, giải phóng vùng đất đai rộng lớn, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị chiến đấu của ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc và bằng mọi vũ khí có trong tay, bằng địch vận, bằng văn hóa…
Qua tham luận này, chúng tôi muốn góp phần chứng minh quân và dân Tây Nam Bộ không chỉ góp phần “chia lửa” với cả nước nói chung và chiến trường chính Điện Biên Phủ nói riêng, mà còn góp phần rất quan trọng ở giai đoạn chuyển thế tiến công, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta vào Chiến dịch Đông - Xuân năm 1953-1954.
2.      Nội dung
2.1.Chủ trương của Trung ương và Trung ương Cục miền Nam
Tháng 1-1953, Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II) họp bàn về phương hướng công tác của năm 1953.
Về công tác quân sự Hội nghị phê phán một số lệch lạc cần uốn nắn ngay:“Một số đơn vị còn mắc những khuyết điểm như ham đánh to, ăn to, chủ quan khinh địch, tự kiêu tự mãn, tổ chức quá kềnh càng, chế độ tài chính không chặt chẽ, ham chuộng hình thức, cán bộ chưa biết thương yêu chiến sĩ như anh em ruột thịt. Từ nay quân đội ta phải quyết tâm sửa đổi những khuyết điểm ấy”(1).
Về mặt chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đối với Nam Bộ, Hội nghị có những tư tưởng chỉ đạo sau đây:
Mặc dù bị thất bại nặng, địch ngày càng tăng cường lực lượng chiếm giữ các đô thị lớn, các vùng chiến lược quan trọng và nêu rõ phương châm chiến lược của ta là: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do”. “Phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân, phải khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những vùng căn cứ kháng chiến sau lưng địch”(2).
Đến cuối tháng 9, tại khu núi Hồng tỉnh Tuyên Quang thuộc căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự trong Đông - Xuân 1953-1954. Tham dự Hội nghị có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, các ủy viên Bộ chính trị: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị. Đối với Nam Bộ, Hội nghị chủ trương: “Đối với chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ thì nhiệm vụ là đẩy mạnh chiến tranh du kích, lợi dụng điều kiện thuận lợi mới do quân địch phải tập trung nhiều lực lượng đi các hướng khác mà tăng cường hoạt động đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh ngụy vận, mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích”(3).
Bước sang năm 1954, để chuẩn bị đánh những đòn quyết định ở chiến trường chính, Trung ương đã có kế hoạch căng lực lượng địch ra trên phạm vi cả nước để giảm sức ép ở chiến trường chính, tạo điều kiện đi tới thắng lợi quyết định. Ngày 8-1-1954, Ban Bí thư có điện mật gửi Trung ương Cục miền Nam về nhiệm vụ của chiến trường Nam Bộ năm 1954. Trong bức điện này đã phân tích rõ tình hình chung và những đặc điểm của Nam Bộ, trên cơ sở đó nêu ra những nhiệm vụ cụ thể của Nam Bộ trong việc phối hợp với chiến trường toàn quốc:
Trong 8 năm nay, địch luôn luôn có âm mưu bình định Nam Bộ. Nhưng chúng đã thất bại, chẳng những không thực hiện được âm mưu, mà còn bị ta tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực. Được như vậy là vì nhân dân, bộ đội và cán bộ đã quyết tâm đánh giặc. Nam Bộ là nơi địch thấy có nhiều điều kiện cho chúng thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Nam Bộ là nơi Mĩ đã bỏ vốn vào các đồn điều cao su, các hãng buôn và nhà máy. Như vậy Mĩ càng mưu mô với Pháp xúc tiến việc bình định Nam Bộ, Mĩ còn hi vọng phát triển các đội ngụy quân. Ngụy quân càng nhiều, Mĩ càng có điều kiện nắm lấy lực lượng vũ trang ở Đông Dương. Trước tình hình ấy, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ sẽ thêm khó khăn và lâu dài. Nhưng Nam Bộ có nhiều thuận lợi để đối phó thắng lợi với âm mưu của địch.
Một là, quân và dân Nam Bộ đã chiến đấu bền bỉ, gian khổ, anh dũng suốt tám năm. Đó là điều căn bản để giữ vững phong trào kháng chiến.
Hai là, địch càng thua ở chiến trường chính, càng bị động, tinh thần càng suy nhược. Ta có nhiều điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá âm mưu càn quét bình định.
Như vậy, ta phải nhận định rằng: “Qua năm 1954, nếu Nam Bộ giữ vững được thế cầm cự lâu dài với địch, không cho chúng thực hiện âm mưu bình định, là căn bản ta đã thắng được chúng”(4).
Một là, giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích: “Nam Bộ là một chiến trường hoàn toàn du kích, phương châm tác chiến của ta căn bản là du kích chiến. Vì vậy phải chống tư tưởng chính quy đem tiểu đoàn tập trung học tập đánh công kiên hai ba tháng như Khu VII và học đánh vận động chính quy như Khu IX”.
Hai là, củng cố và mở rộng căn cứ. “Hướng xây dựng căn cứ của Nam Bộ là: Giữ vững và củng cố căn cứ Bạc Liêu và Đồng Tháp, tích cực củng cố phát triển căn cứ miền Đông”.
Ba là, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận(5).
Về binh chủng chuyên môn, Nam Bộ có 50 đội chuyên môn đánh tàu thủy, cơ giới, đánh bộc phá, biệt kích…, miền Tây còn xây dựng thêm các đội chuyên môn đánh tàu theo kinh nghiệm Đồng Tháp Mười.
Về xây dựng lực lượng và tổ chức quân đội, Tổng quân ủy Trung ương đã có điện mật gửi Chính ủy và Tư lệnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam, trong đó có lưu ý đến việc phải tổ chức những tiểu đoàn cơ động độc lập để ứng phó với những diễn biến mới khi ở chiến trường chính có những trận đánh lớn: “Nam Bộ cần xây dựng mấy tiểu đoàn chủ lực, lưu động chiến đấu,, lúc thường thì dùng đơn vị tiểu đoàn, khi có điều kiện thuận lợi thì tập trung hai tiểu đoàn tác chiến (đánh từng trận rồi phân tán), như vậy mới lợi dụng được sơ hở của địch và học tập đánh vận động chiến, do đó mà đẩy mạnh du kích chiến. Hiện nay, về danh nghĩa thì có mấy đơn vị chủ lực, Khu IX có một trung (đoàn). Cần phải quan niệm dứt khoát đó là những đơn vị cơ động của ta, không giao nhiệm vụ gì khác, để khi điều động khỏi bị vướng, nhiệm vụ có rõ thì xây dựng mới có kết quả. Bộ sẽ điện kinh nghiệm xây dựng vào và gửi một số cán bộ đại đội và tiểu đoàn vào. Ý kiến này đã bàn với đồng chí Duẩn là nên kiện toàn hai tiểu đoàn sẵn có trước”(6).
“Muốn thực hiện được kế hoạch trên thì cần đề bạt rất mạnh dạn cán bộ từ dưới lên, để mỗi cấp có đủ cán bộ chính trị, quân sự, có đủ cấp trưởng và phó, không sợ non kém, sẽ rèn luyện dần”(7).
Ngày 8-6-1953, thi hành nghị quyết của Trung ương Đảng, những chỉ đạo của Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam đề ra 5 nhiệm vụ cho chiến trường Nam Bộ. Trong đó nhấn mạnh các khâu: Tăng cường mọi mặt công tác địch hậu, chú ý công tác dân vận và địch ngụy vận, lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành quyền lợi hằng ngày với địch, chủ yếu là đấu tranh kinh tế, văn hóa, chính trị. Phát động chiến tranh du kích mạnh mẽ, tiêu hao tiêu diệt sinh lực nhỏ của địch, chống phá các cuộc càn quét chiếm đóng lan rộng của địch vào vùng du kích và căn cứ du kích, đặc biệt chống biệt kích và chống gián điệp… Ngoài ra, còn nhấn mạnh công tác chỉnh quân, chỉnh Đảng, chỉnh đốn nông hội.
Cuối tháng 8-1953, Trung ương Cục mở hội nghị bàn về công tác địch ngụy vận. Hội nghị đã thảo luận về tính chất, mục đích, phương châm, phương pháp vận động và đề ra 12 chủ điểm của kế hoạch vận động binh lính địch ở Nam bộ. Hội nghị nhấn mạnh: Phải chú ý đến gia đình và bản thân ngụy binh, phải phối hợp vận động ngụy binh với tác chiến; phải chú ý lôi kéo sĩ quan ngụy. Trước hết phải biết gây dựng cơ sở trong phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh để giành giật, tranh thủ “khối dự trữ” sĩ quan dồi dào của địch ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Kết hợp vận động binh lính với phong trào chống bắt lính, bắt phu. Phải tổ chức phong trào này thật rộng rãi, sôi nổi, bao gồm các tầng lớp nhân dân, để phá tan nguồn bổ sung của địch và làm lũng đoạn tinh thần ngụy quân, ngụy quyền.
Tháng 9-1953, Tổng Quân ủy Trung ương thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 có chủ trương về mặt trận sau lưng ở Nam Bộ như sau: Tùy tình hình sử dụng một bộ phận chủ lực tiến sâu vào vùng sau lưng địch, phối hợp với quân địa phương và dân quân du kích, đánh tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh đấu tranh phá tan kế hoạch bình định của địch, thu hẹp vùng địch tạm chiếm, mở rộng vùng tự do, phối hợp với mặt trận chính. Phương châm hoạt động là: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt…
2.2. Diễn biến chiến trường ở Tây Nam Bộ và việc phối hợp với Điện Biên Phủ và các chiến trường khác.
 Tinh thần cơ bản của chủ trương chiến lược phá kế hoạch Navarre là “dàn mỏng” quân địch ra toàn bộ chiến trường Ðông Dương để bẻ gẫy từng mảng lực lượng của chúng. Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Ðịch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Ðịch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán mà đánh”(8). Nam Bộ bước vào chiến dịch Ðông Xuân 1953 - 1954 với tư tưởng chỉ đạo đó. Nhìn trên toàn cục chiến trường Ðông Dương và lấy Ðiện Biên Phủ làm chuẩn thì Nam Bộ là chiến trường xa nhất về phía nam. Ðối với ta, khoảng cách ấy hầu như không thể chi viện cụ thể bằng sức người, sức của cho Ðiện Biên Phủ, nhưng đối với thực dân Pháp thì Nam Bộ lại rất “gần” với chiến trường chính của chúng về chính trị, chiến lược quân sự và những vấn đề kinh tế - xã hội. 
Nhìn lại lịch sử, ngay từ giữa thế kỷ 19, khi xâm lược Việt Nam, thực dân pháp đã chọn giải pháp đánh chiếm Nam Bộ trước. Chúng xây dựng, củng cố nơi đây trở thành hậu phương trực tiếp, làm bàn đạp để tiến quân đánh chiếm miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Ðến cuộc xâm lược lần thứ hai - tháng 9-1945, thực dân Pháp cũng đánh chiếm Sài Gòn - Nam Bộ trước. Chúng ổn định tình hình ở đây và một năm sau mới chính thức gây chiến ở Hà Nội và Bắc Kỳ. 
Sự lặp lại ấy hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà là sự tính toán rất có cơ sở của các nhà quân sự Pháp, vì: đối với Ðông Dương, Sài Gòn và Nam Bộ là đầu cầu đường biển gần nhất nối với Pháp, cho nên giữ được đầu cầu này có ý nghĩa chiến lược, ảnh hưởng trực tiếp đến sức chiến đấu của đội quân viễn chinh ở xa chính quốc hàng vạn dặm. Mặt khác, Nam Bộ lại là nơi đông dân, nhiều của nhất, thực dân Pháp có thể khai thác thuộc địa được nhanh và nhiều để phục vụ cho chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Tóm lại, trong chiến tranh Ðông Dương, Nam Bộ luôn có vai trò là hậu phương trực tiếp của quân xâm lược Pháp. 
Trong bối cảnh chiến trường Ðông Dương đông xuân 1953 - 1954, Nam Bộ còn có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Pháp vì ở đây còn chứa đựng những quyền lợi trước mắt và lâu dài của Mỹ mà Pháp phải bảo vệ để đổi lấy viện trợ quân sự….chính vì thế mà ở Nam Bộ, địch vẫn chủ động càn quét và chiếm đóng thêm nhiều nơi. Mặc dù phải tập trung cho chiến trường chính Bắc Bộ, nhưng lực lượng quân Pháp ở Nam Bộ vẫn lớn hơn ta rất nhiều: chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm 1953, chúng đã bắt thêm được 17.000 lính mới, chuyển được 20 tiểu đoàn Cao Ðài và Hòa Hảo sang hệ thống chính quy, lực lượng này làm nhiệm vụ chiếm đóng thay thế cho bảy tiểu đoàn lính Âu Phi được rút ra làm lực lượng cơ động. Với lực lượng như trên, chúng tiến hành các hoạt động bình định ở hầu hết các tỉnh miền trung Nam Bộ và miền tây Nam Bộ. 
Cũng vào thời điểm này, lực lượng chủ lực của ta ở Nam Bộ chỉ có ba tiểu đoàn của Khu là 302, 304, 307 và bảy tiểu đoàn của các tỉnh là: 300, 303, 306, 308, 310, 311, 410, ngoài lực lượng này còn có các đại đội, trung đội bộ đội địa phương của các huyện và dân quân du kích xã. Lực lượng ta so với địch không những ít hơn về số lượng mà trang bị vũ khí cũng kém hơn, vì vậy mà nhiệm vụ của Nam Bộ trong đông xuân 1953 - 1954 chủ yếu là hoạt động đều khắp ở các vùng sau lưng địch, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa theo kiểu du kích nhằm tiêu hao, cầm chân và gây bất ổn hậu phương địch. 
Về chỉ đạo, Trung ương cục miền Nam đã chủ động đề ra chủ trương “chuẩn bị đón thời cơ mới” bằng cách đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị kết hợp với “địch ngụy vận” để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ.
Tại Nam Bộ, để hoàn thành việc bình định địa bàn trong Hè - Thu 1953, quân Pháp liên tiếp tung ra một loạt các cuộc càn quét đánh vào các căn cứ du kích của ta và đã gây cho ta nhiều khó khăn. Tây Nam Bộ lúc này cũng chịu áp lực khá lớn của Kế hoạch Navarre.
 Ở Cần Thơ, trong quý I-1953, Pháp bình định lấn chiếm thêm một số vùng, vùng độc lập của ta chỉ còn 19 xã trong tổng số 76 xã toản tỉnh, 24 xã là vùng tranh chấp. Ở Sóc Trăng, trong tổng số 67 xã, ta có 9 xã là vùng độc lập và 15 xã tranh chấp. Ở Rạch Giá (cũ) địch chiếm lại huyện Giồng Riềng, mở rộng vùng tạm chiếm đóng ra một số xã thuộc An Biên, Gò Quao.
Ở Long Châu Hà, địch lấn chiếm vùng Núi Tượng (Tịnh Biên) và đang mở rộng ra huyện Tri Tôn, Thoại Sơn. Ở Bạc Liêu, địch đóng thêm đồn ở huyện Giá Rai. Riêng Vĩnh - Trà, vùng độc lập của ta đến tháng 3-1953 có mở rộng thêm, nhưng địch vẫn còn đóng 168 đồn bốt.
Địch tăng cường bắt lính thêm ở nhiều xã. Chúng còn tăng thêm 2 tiểu đoàn chủ lực (trước chỉ có 2 tiểu đoàn) và 50 đội Commandos. Số lượng quân chiếm đóng tăng lên 22.000 tên.
Trước tình thế đó Trung ương Cục đã có chủ trương uốn nắn xu hướng hữu khuynh, phát động tinh thần chủ động tích cực trên chiến trường. Trong thực tế, ngoài một số địa phương phong trào giảm sút, thì ở nhiều nơi quân dân Tây Nam Bộ vẫn kiên trì chiến đấu quyết liệt với địch và đã tạo được “phản áp lực” đối với Kế hoạch Navarre.
Trong 3 tháng đầu năm 1953, quân dân tỉnh Bạc Liêu đã đánh nhiều trận. Đại đội địa phương huyện Giá Rai phối hợp với du kích và công tác địch ngụy vận bức rút 3 đồn địch trên lộ Đông Dương 16. Đại đội địa phương Cà Mau phối hợp với Tiểu đoàn 307 đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch (Tiểu đoàn 19 BVN và Tiểu đoàn Cao Đài phản động) tại Bàu Thúi, Ô Rô, lộ xe Tân Lộc, diệt 300 tên, bắt sống 40 tù binh. Tại thị trấn Cà Mau, hàng trăm quần chúng đấu tranh chống bắt lính quyết liệt, giải thoát được 19 thanh niên.
Nổi nhất là trong tháng 5-1953, sau khi Tiểu đoàn 307 phối hợp với địa phương quân và du kích tiến công tiêu diệt cứ điểm Hộ Phòng (Giá Rai - Bạc Liêu), giết hàng trăm tên địch, bắt sống nhiều tên, thu toàn bộ vũ khí, thì ngày 21-5-1953, Pháp tổ chức một trận càn quét lớn gồm 10 tàu chiến, có máy bay yểm trợ từ kinh xáng Hộ Phòng vào ngã tư Phó Sinh, Huyện Sử, Thới Bình phối hợp với bọn địch ở Cà Mau ra Tắc Thủ, hành quân dọc hai bờ sông Ông Đốc, qua sông Bảy Háp và kinh Xáng Đội Cường.
Đây là cuộc hành quân lớn, dài ngày, thọc sâu vào vùng độc lập của ta. Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở xã Trí Phải (Thới Bình) không kịp bổ trí chặn đánh địch trên sông Ông Đốc. Ngay sau khi biết tin, tiểu đoàn đã hành quân cấp tốc theo địch. Đồng bào nô nức đưa xuồng, ghe, đồ tiếp tế theo bộ đội. Hai trung đội trợ chiến đi đường tắt đến sông Bảy Háp trước, bố trí trận địa ngay ở vàm rạch Nhựt Nguyệt 200 m, 9 giờ sáng ngày 3-6-1953, máy bay địch quần đảo yểm trợ cho chiếc LCT và 3 tàu khác nối theo sau lọt vào trận địa ta. Quân ta lập tức phóng bom và nổ súng. Cả 4 chiếc tàu đi đầu đều chìm xuống nước. 6 chiếc sau bắn loạn xạ, yểm trợ cho bọn trên bờ lùng sục. Đơn vị đánh tàu rút sâu theo kinh Nhựt Nguyệt. Ngay đêm đó, Tiểu đoàn 307 phán đoán là địch sẽ rút chạy về Cà Mau, nên bố trí chặn địch trên đường từ Bảy Háp về Cà Mau. Sáng ngày 4-6-1953, bọn bộ binh trên bờ lọt vào trận địa phục kích, quân ta nổ súng, chia cắt địch, làm chủ chiến trường. Bọn sống sót cố lội ra tàu, bọn trên tàu hoảng sợ rút chạy theo kinh Xáng Đội Cường về Cà Mau.
Trận này, ta diệt trên 400 tên địch, thu hơn 300 súng, bắn chìm 4 tàu địch. Đây là trận thua đau nhất của địch ở Tây Nam Bộ. Kể từ đó, địch không còn dám mở trận đánh nào vào vùng căn cứ Cà Mau - Bạc Liêu.
Nhân thắng lợi này, bộ đội địa phương và du kích các huyện Cà Mau, Giá Rai, Vĩnh Lợi, Phước Long, An Biên còn tiến công, bức rút nhiều đồn bót, tháp canh của địch ở ven thị trấn Cà Mau và dọc theo các trục lộ giao thông. Một số đồn trên lộ Đông Dương 16 cũng rút.
Ở Cần Thơ, từ ngày 9 đến ngày 13-6-1953, cũng có một trận càn quét lớn của địch gồm 15 tiểu đoàn bộ binh, có tàu chiến và máy bay yểm trợ đánh vào vùng căn cứ của ta ở Vị Thanh, Hỏa Lựu và Giồng Riềng, Cầu Đúc.
Tiểu đoàn 410 đã phối hợp với địa phương quân và du kích chặn đánh quyết liệt, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng. Đặc biệt là tại Cầu Đúc, Cái Sình, khi bộ binh địch đến Cầu Đúc thấy cầu bị đánh sập, chúng dùng 2 tàu LCM chuyển quân từ bờ bắc sang bờ nam đã đụng phải thủy lôi của Tiểu đoàn 410, 1 tàu bị chìm, 150 tên địch chết, cuộc càn bị bỏ dở…
Ở Long Châu Hà trong tháng 4-1953, Tiểu đoàn 406 phối hợp với du kích đánh địch ở Núi Nước, diệt 25 tên. Ở huyện Châu Thành - Long Xuyên, bộ đội địa phương phối hợp với đơn vị số 4 của Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí đánh diệt 1 đại đội Hòa Hảo ở Hòa Bình Thành, dụ hàng đồn Kinh 4 và tập kích vào Văn phòng đại đội 39 của Hai Ngoán, diệt và làm bị thương gần 30 tên.
Tại Vĩnh - Trà, trong vòng 8 tháng đầu 1953, quân và dân trong tỉnh đã đánh 320 trận lớn nhỏ, diệt trên 300 tên địch, làm bị thương 132 tên, phá 97 đồn bót, thu nhiều súng. Địch chỉ còn đóng 141 đồn.
Bến Tre trước thế tiến công của ta, trong tháng 10-1953, 700 lính ngụy rã ngũ.
Ở Sóc Trăng, trong 2 tháng cuối năm 1953, có 2 trận nổi bật là bộ đội địa phương bao vây, pháo kích đồn Pécton (Phú Mĩ). Địch điều Tiểu đoàn 19 BVN ứng cứu, quân ta chặn đánh ở Cầu Bà Lui và chợ Huỳnh Hữu Nghĩa (xã Mĩ Tú) diệt 80 tên. Ngày 23-12-1953, Tiểu đoàn 308 phối hợp với bộ đội quận Sóc Trăng bố trí đánh địch trên đường Bố Thảo - Tam Sóc, diệt 4 xe quân sự đi giải vây cho đồn Pécton, ta thu 60 súng. Bọn lính ở đồn Pécton hoảng hốt kéo cờ trắng đầu hàng.
Tại đảo Phú Quốc, nơi có nhà tù giam giữ trên 3.000 cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Vào tháng 9-1953, Đảng ủy nhà tù Cây Dừa với sự hỗ trợ của Huyện ủy Phú Quốc đã tổ chức cho 300 tù chính trị vượt ngục thành công. Một số anh em đã về được đất liền tham giam chiến đấu.
Tháng 11-1953, Địa phương quân Phú Quốc đã phục kích diệt gọn 1 đại đội địch ở xã Dương Tơ. Phong trào kháng chiến ở Phú Quốc trên đà phát triển.
Những chiến thắng ở Tây Nam Bộ trong thời gian này đã góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường trên cả nước. Điều quan trọng nhất là: Cái khả năng thứ 3 mà Navarre định loại bỏ thì đã không loại bỏ được. Điều đó tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cục diện và tình hình chiến trường chính vào Thu - Đông 1954. Theo tin tình báo, Navarre đã vạch kế hoạch chiếm đóng miền Hậu Giang trong 2 năm 1953 - 1954, nhưng do bị thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Bắc, buộc phải điều bớt quân từ Nam ra Bắc và ngay trên chiến trường Tây Nam Bộ, chúng cũng bị tiến công và thất bại nhiều nơi, nên buộc phải hủy bỏ kế hoạch 4. Phối hợp với chiến trường toàn quốc, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ (cuối 1953 - tháng 7-1954)
Ngày 28-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời những câu hởi của Chủ bút tờ báo Expressen Thụy Điển, về chiến tranh Việt Nam. Sau khi nêu rõ cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra, nhân dân Việt Nam đứng dậy kháng chiến là để bảo vệ độc lập, hòa bình. Hồ Chủ Tịch tuyên bố: “Hiện nay, nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam theo con đường thương lượng hòa bình, thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đón nhận ý muốn đó”.
Trả lời câu hỏi về cơ sở cho cuộc đình chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chỉ cần Chính phủ Pháp đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược, thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của Việt Nam”(8).
Những câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới, có tác dụng mở đầu cuộc thương lượng hòa bình ở Hội nghị Genève, để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.
Để phối hợp với mặt trận ngoại giao, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ngày 24-1-1954, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị: “Phải kịp thời khuếch trương những chiến thắng quan trọng về quân sự và chính trị để hoàn thành nhiệm vụ trung tâm” (Nguồn: Những sự kiện Lịch sử Đảng (1945 – 1954) Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, t.2, tr 336-337.); Ủy Ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ báo cáo Trung ương về nhiệm vụ năm 1954 của Nam Bộ: “…Căn cứ tình hình và Chỉ thị của Trung ương, nhiệm vụ của Nam Bộ là phải giữ vững “thế cầm cự lâu dài” với địch, không cho chúng thực hiện âm mưu bình định…cụ thể: (1) Giữ vững và đẩy mạnh du kích chiến tranh, chống cướp phá, càn quét của địch, kết hợp chặt chẽ cuộc đấu tranh võ trang với cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị, đưa vùng du kích lên ưu thế về ta và từng vùng tạm chiếm thôn quê trở nên vùng du kích, mở rộng và củng cố căn cứ du kích. (2) Đẩy mạnh công tác vùng tạm bị chiếm, nhất là đô thị và phối hợp đấu tranh chặt với vùng căn cứ du kích. (3) Không ngừng mở rộng việc vận động ngụy quân và chống bắt lính, phối hợp giữa vận động ngụy quân với tác chiến, đẩy mạnh phong trào ở địch hậu. (4) Phòng gian bảo mật. (5) Tích cực giảm tô, giảm tức, đẩy mạnh sản xuất tiết kiệm để bồi dưỡng sức dân. (6) Chỉnh Đảng và cán bộ, chỉnh quân, chỉnh đốn nông hội và các đoàn thể, nhất là thanh niên, phụ nữ. (Nguồn: Công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng võ trang QK VII, SĐd, tr. 383-384)
Trước tình hình thuận lợi, chỉ thị của Trung ương Cục còn nhấn mạnh: “Ra sức khắc phục những tư tưởng chủ quan, cầu an, bị động, chủ động tập trung đánh mạnh vào vùng địch hậu, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hoại cơ sở kinh tế, hậu cần của địch, buộc chúng phải đối phó ngay tại nơi mà chúng cho là tương đối an toàn, đồng thời có kế hoạch đề phòng địch càn quét vào khu căn cứ, nhưng không được phân tán lực lượng” (Nguồn: Những sự kiện Lịch sử Đảng (1945 – 1954) Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, t.2, tr 336-337.) .
Các tỉnh Phân liên khu miền Tây theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục khẩn trương tiến hành học tập, thông suốt nhiệm vụ tiến công phối hợp chiến trường, chuẩn bị ráo riết mọi mặt để bước vào Đông Xuân 1953 - 1954. Các tỉnh thuộc địa bàn quan trọng như: Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Trà đều có kế hoạch chia làm 2 đợt tiến công dài ngày.
Ở Cần Thơ vào đợt 1 từ giữa tháng 11-1953, các lực lượng vũ trang tỉnh bao vây uy hiếp 40 đồn bót địch nằm trên trục lộ giao thông Rạch Sỏi - Minh Lương, Bến Nhất - Tắc Cậu, đánh bại nhiều cuộc hành quân của 2 Tiểu đoàn 14 và 15 của địch. Từ tháng 12-1953 đến giữa tháng 5-1954, quân chủ lực phối hợp bộ đội địa phương và đặc công đã 3 lần đột nhập thị xã Cần Thơ, tiến công căn cứ chỉ huy tiểu khu, khu hành chính, phân khu Long Xuyên - Rạch Giá… diệt nhiều tên chỉ huy ác ôn, phá kho tàng và doanh trại địch. Riêng trận đột nhập thị xã Rạch Giá, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 307 đánh sập 2 lô cốt bảo vệ dinh tỉnh trưởng, bức rút 2 tháp canh. Trong 3 ngày tiến công, ta diệt hơn 100 địch, bắt sống 15 tên, diệt nhiều tề, điệp, thu nhiều vũ khí, gần 100 lính thuộc Tiểu đoàn 15 ngụy ở Rạch Giá rã ngũ. Bộ đội ta còn đánh vào thị trấn Rạch Sỏi, diệt căn cứ chỉ huy của bọn Cao Đài phản động và nhiều vị trí đóng quân của địch trong thị trấn.
Tại Gò Công, nơi bọn địch bình định ác liệt từ năm 1951 đến 1953 đến nỗi cán bộ phải bám hầm bí mật “ba, bốn năm hầu như không thấy mặt trời”, nay trở thành trọng điểm về tiến công đồng loạt. Sauk hi ta lập kế hoạch bắt sống tên Trưởng đồn Cây Mắm (người Pháp), lực lượng ta ập vào chiếm đồn, thu hàng trăm vũ khí, khóng chế và buộc Trưởng đồn kêu gọi 6 lô co61tra hàng. Hoảng sợ, 3 đồn gần đó cũng xin hàng. Chỉ trong vòng  một tuần lễ từ 22-29 tháng 2 năm 1954 bằng cách tiến công và địch ngụy vận quân và dân Gò Công đã diệt, bức hàng và bức rút 74 đồn, bốt và tháp canh, diệt và bắt sống hàng trăm tên, làm rã ngũ 1.000 tên khác, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, giải phóng 30/41 xã của huyện Gò Công.
Cũng thời gian này, tại huyện Vàm Cỏ (Tân An) tiểu đoàn 309 tỉnh Mỹ Tho phối hợp với bộ đội địa phương tổ chức phục kích ở Tầm Vu (Tân An) tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 502 BVN và đại đội 14 quân Pháp, thu gần 100 súng các loại và nhiều phương tiện, vũ khí, khí tài quân sự khác.
Một tháng sau đó, tiểu đoàn 309 lại phối hợp với bộ đội, du kích địa phương đánh bại một tiểu đoàn quân ngụy ở khu vực Miếu Bà Cố, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn lính Hòa Hảo tại cống Ông Điếu. (Nguồn: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1945-1954), t.1, tr.506).
Tại chiến trường miền Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Tỉnh ủy Chợ Lớn phối hợp với địa phương quyết định đánh đồn Còmiđọt tại xã Gò Đen, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Đây là đồn lính Pháp xây dựng có công sự vững chắc, cách Sài Gòn khoảng 30km, nằm trên trục đường Quốc lộ 1, nối Sài Gòn Chợ Lớn với miền Tây Nam Bộ. Trinh sát của ta cho biết, bọn địch hiện đang mở rộng, kiên cố đồn Còmiđọt. Tại đây, quân địch có hơn 400 tên lính Âu Phi được trang bị đầy đủ vũ khí. Đặc biệt, hơn 300 tên đang chuẩn bị lên máy bay tiếp viện cho Điện Biên Phủ và tỉnh Cao Bằng vào ngày 24-3-1954.
Quân ta quyết định đánh tan đồn Còmiđọt vào đêm 23-03-1954, ngăn chặn âm mưu chi viện cho Điên Biên Phủ của thực dân Pháp. Lực lượng tham chiến là bộ đội Trung Huyện (Chợ Lớn) và Chi đội 15 sẽ đánh tập kích.
Tuy nhiên, để đánh nhanh, thắng nhanh trận này cần có người ở trong đồn mở cổng. May thay, anh em Ban Binh vận liên hệ được với 3 người là lính Ngụy đang làm việc trong đồn. Cả 3 anh là người miền Nam bị địch bắt đi lính nhưng đều mong muốn cùng tham gia giết giặc lập công.
11 giờ đêm, quân ta mở màn trận đánh với dàn pháo nổ dậy trời, sáng lòa cả một vùng. Mũi chủ công xông lên ngay cổng đồn và ra hiệu cho 3 người lính Ngụy mở cổng. Hạ gục một số tên lính gác tại cổng, quân ta ào ạt xông vào.
Với lựu đạn, súng tiểu liên, mã tấu, các chiến sĩ đánh phủ đầu diệt địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch không kịp trở tay. Hơn 300 lính Âu Phi bị tiêu diệt, bắt sống 95 tên, trong đó có một sĩ quan cao cấp trong quân đội Pháp. Quân ta thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự của địch, trang bị lại cho đơn vị. Đồn Còmiđọt bị sập và bị đốt cháy hoàn toàn chỉ trong một đêm.
Chiến thắng đồn Còmiđọt tại Gò Đen được Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên dương. Đây là sự kết hợp đúng như chỉ đạo của trên nhằm chia lửa với Điện Biên Phủ. Các chiến sĩ Bộ đội Trung Huyện, trong đó có chỉ huy Đặng Văn Thượng, tham gia diệt hơn 300 tên lính Pháp trước ngày chúng chuẩn bị lên máy bay ra tiếp viện Điện Biên, được trao tặng huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên phủ”.
Kết quả đợt 1 ở trọng điểm Cần Thơ (gồm cả một phần Rạch Giá cũ), bộ đội đã đánh 140 trận, diệt và làm bị thương 900 tên, bắt sống 95 tên, rã ngũ 327 tên, diệt 18 đồn, bức hàng, bức rút 22 đồn, đánh chìm 2 tàu chiến, thu 125 súng và nhiều quân trang quân dụng. Trong đợt này, riêng lực lượng du kích các xã diệt 237 tên địch, làm bị thương 121 tên, bắt 84 tên. Vùng căn cứ được mở rộng đến sát thị xã Rạch Giá. Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh. Mỗi xã có từ 1 đến 2 tiểu đội du kích được trang bị đủ súng đạn. Bộ đội địa phương huyện phát triển gấp 3 lần. Quân số các tiểu đoàn chủ lực 307, 410 tăng gấp 2 lần so với trước, mỗi tiểu đoàn có 1.000 quân.
Ở trọng điểm 2 Ô Môn (Cần Thơ), lực lượng huyện diệt 700 tên địch, bắt sống 125 tên, thu 157 súng, phá hủy và bức rút 50 đồn và tháp canh, làm tan rã 700 tên (có 400 lính bảo an Hòa Hảo), 12 xã ven sông giáp với thị xã chuyển thành vùng du kích. Bộ đội làm chủ trên nhiều trục giao thông quan trọng. Công tác địch ngụy vận thu được kết quả khả quan. Một trung đội Hòa Hảo ở Thốt Nốt làm binh biến diệt tên chỉ huy ác ôn, mang vũ khí về với nhân dân. Đêm 30 Tết (1954), binh sĩ ở 5 lô cốt xã Giai Xuân nổi dậy, mang 70 súng về với kháng chiến.
Tỉnh Sóc Trăng trong 3 tháng đầu năm 1954, tại trọng điểm 1 của tỉnh, lực lượng vũ trang diệt đồn Pécton (xã Phú Mĩ), bức hàng và bức rút 21 đồn, lô cốt, sau đó diệt tiếp 2 đồn có trên 200 tên địch đóng giữ và đánh 1 xe chở đầy lính.
Ở trọng điểm 2 của Sóc Trăng là huyện Thạnh Trị, du kích uy hiếp 39 sóc được Pháp vũ trang, 1 đại đội của Tiểu đoàn 308 thọc sâu vào vùng địch hậu, phá 6 lô cốt ở Lạc Hòa, chặn đánh diệt 40 tên và bắt 25 tên lính người Khơme, ta giáo dục và thả số này về với gia đình. Đầu tháng 4-1954, bộ đội và du kích phá rã thêm 22 sóc, phá lỏng số sóc còn lại, diệt và bắt 300 tên.
Lực lượng vũ trang 2 huyện Kế Sách và Long Phú diệt 3 đồn, bức hàng, bức rút 14 lô cốt, diệt 37 tên địch, bắt sống 57 tên, làm rã ngũ 147 tên, thu 70 súng. Riêng lực lượng địa phương Long Phú giải tán hơn 300 lính bảo an, đột nhập thị xã Sóc Trăng, diệt thêm 2 tiểu đội địch đi tuần tiễu. Hầu hết các xã bị địch tạm chiếm đã trở thành vùng tranh chấp, có 213 xã ta ở thế mạnh hơn địch.
Trong 3 tháng đầu năm 1954, ở 2 tỉnh Cầu Thơ và Sóc Trăng, quân cơ động của địch bị tiêu hao, tiêu diệt nặng, tinh thần địch sa sút, trên 1.000 lính đào rã ngũ, mang hàng trăm súng về với nhân dân.
Địch đưa các tiểu đoàn lính Cao Đài, Hòa Hảo ra ứng chiến và đóng đồn. Loại lính này ô hợp không có tinh thần chiến đấu Khi ta mở đợt 2 phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, trước khí thế tiến công của bộ đội và du kích, bọn chúng hoảng loạn bỏ đồn tháo chạy khá nhiều. Các đơn vị ứng chiến của địch cũng “án binh bất động”, xin được “trung lập” với ta. Nhiều đồn bót, lính ngụy cho người tìm cơ sở cách mạng để xin được “trung lập hóa”, đề nghị đứng đánh chúng, chúng cam kết không đi càn quét, tiếp viện, không gây khó dễ với dân. Bộ đội hay cán bộ cần qua đồn bót cứ cho chúng biết trước để tránh đụng độ với nhau.
Đầu tháng 2-1954, ngay đêm mở đầy đợt 1, lực lượng vũ trang tỉnh Trà Vinh đã diệt 4 đồn địch ở huyện Cầu Ngang. Liên tiếp nhiều ngày sau, kết hợp với địch ngụy vận, ta diệt và bức hàng, bức rút nhiều đồn bót, giải phóng nhiều xã thuộc các huyện Cầu Ngang, Trà Cú, Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè.
Vào đợt 2, bộ đội và du kích diệt thêm 4 cứ điểm ở Châu Thành, Tam Bình và Duyên Hải.
Phong trào quần chúng chống bắt lính lên rất mạnh. Tại thị xã Vĩnh Long, quần chúng đấu tranh giải thoát hơn 200 thanh niên khỏi bị bắt lính. Ở Cầu Ngang 120 gia đình người dân tộc Khơme đấu tranh đòi trả chồng con họ về với gia đình. Từ cuối năm 1953 đến 3 tháng đầu năm 1954, đã có 1.575 lính đào, rã ngũ.
Cũng trong tháng 2 năm 1954, Tiểu đoàn 307 phục kích trên quốc lộ 4 cách thị xã Cà Mau 3 km, diệt tiểu đoàn Hòa Hảo do Ba Gà Mổ chỉ huy, thu nhiều súng đạn, bắt nhiều tù binh.
Tại Bạc Liêu, ngày 7-2-1954, bộ đội huyện An Biên phối hợp với đặc công có sự yểm trợ của Tiểu đoàn 307, tiến công huyện lị An Biên, bắt sống tên quận trưởng Sang, diệt nhiều tề, điệp, thu nhiều vũ khí. Đêm 1-3-1954, Đại đội 932 cùng Đại đội trợ chiến của Tiểu đoàn 307, bao vây đồn chính của Chi khu An Biên và các đồn bót trên lộ từ huyện lị Thứ Ba ra Xẻo Rô. Qua ngày sau, bộ đội ta phục kích để đánh địch đi cứu viện An Biên (vì bị lộ nên ta chỉ diệt được 20 tên), bọn chúng rút chạy về Rạch Giá. Sau 3 ngày đêm bao vây, pháo kích, bắn tỉa… bọn địch đóng trong hệ thống đồn bót từ huyện lị Thứ Ba ra Xẻo Rô rút chạy. Nhân dân kéo ra san bằng đồn bót địch.
Sau nhiều ngày chặn đánh bọn đi cứu viện cho Chi khu An Biên, bộ đội và du kích diệt rất nhiều địch, có trận tại Bàu Môn ta diệt 227 tên, chỉ còn 12 tên chạy thoát. Bọn lính trong chi khu trông chờ bọn cứu viện không được, đã liều mạng phá vây rút chạy. Bộ đội ta truy kích, diệt thêm nhiều tên, bắn chìm 1 tàu địch. Cuối tháng 3-1954, bộ đội ta diệt đồn Xẻo Rô, bắt sống tên quận trưởng Lâm Quang Thiếp chạy từ chi khu An Biên ra đây. Ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên địch, thu 400 súng, quét sạch hệ thống đồn bốt từ chi khu An Biên đến Xẻo Rô, ra tận bờ sông Cái Lớn.
Đây là một chi khu (huyện lị) được Pháp xây dựng khá hoàn chỉnh đã bị quân dân ta đập tan và là huyện được hoàn toàn giải phóng đầu tiên ở Tây Nam Bộ.
Trong tháng 4-1954, bộ đội và du kích tỉnh Bạc Liêu còn đánh liên tiếp nhiều trận ở các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, thị trấn Cà Mau và ven thị xã Bạc Liêu, gỡ thêm nhiều đồn, tháp canh trên lộ Đông Dương 16, mở rộng thêm vùng độc lập của ta.
15 ngày đầu tháng 5-1954, quân dân Vĩnh Trà đánh 417 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.700 tên địch, gỡ 62 đồn bót (riêng công tác địch ngụy vận gỡ 27 đồn), thu nhiều vũ khí, có 2.102 ngụy quân rã ngũ.
Phong trào kháng chiến tỉnh Bến Tre lên mạnh từ tháng 2-1954. Các vùng An Hóa, Mỏ Cày, Ba Tri, Thạnh Phú đều chuyển lên, vùng căn cứ của tỉnh càng mở rộng, liên lạc thông suốt về Trung ương Cục. Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây đưa một bộ phận quân y xuống đóng ở Bến Tre.
Nhờ những mũi tiến công liên tiếp, từ nhiều phía nên Tây Nam Bộ đã sửa chữa được sai lầm bị động, hữu khuynh trước đây, phá vỡ thế chủ động của Pháp, đẩy quân Pháp trên chiến trường Tây Nam Bộ trở lại thế bị động, lúng túng đối phó ở khắp nơi. Lúc này, tướng Bondis (Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Nam Bộ) mà Navarre đã từng khen ngợi và hết mực tin tưởng, chỉ còn lại 6 tiểu đoàn cơ động chiến thuật trong tay, không còn đủ sức làm chỗ dựa cho đội quân tay sai vốn đã thiếu về số lượng, yếu về tinh thần lại đang bị rải ra để chiếm giữ một địa bàn rộng lớn. Bị quân và dân ta đánh mạnh, địch hoảng sợ, co vào phòng ngự bị động. hầu hết các tuyến đường bộ, đường sông quan trọng của địch đều bị ta liên tục đánh phá và cắt đứt trong thời gian dài. Nhiều nơi ngay cả ban ngày, chúng cũng không dám mò vào các thôn xóm lùng sục như trước nữa. Việc bảo đảm giao thông liên lạc giữa các vùng căn cứ, giữa miền Đông với miền Tây của ta trở nên thuận lợi hơn. Thế uy hiếp của địch trước đây đối với các vùng căn cứ của ta đã bị phá tan, buộc chúng phải quay về đối phó với ta ngay tại các vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm(9).
Ngoài các hoạt động vũ trang, các tỉnh ở Tây Nam Bộ trong Đông - Xuân (1953 - 1954) còn đặc biệt chú trọng công tác địch ngụy vận theo tinh thần Ban Bí thư chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam va ngày 20 tháng 2 năm 1954 là “Đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với ngụy vận” (Nguồn: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 15, tr 27-28); Tiếp đó, ngày 3 tháng 3 năm 1954, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây ra chỉ thị về việc xây dựng, củng cố cơ sở, phát triển các vùng du kích và địch hậu, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện cấp bách: (a) Phát động quần chúng, quan tâm công tác tuyên truyền “…đưa quần chúng ra cầm võ khí và tham gia mọi mặt công tác để đánh lại quân địch…” (b) Đề phòng khó khăn, chống chủ quan khinh địch: “quyết tâm bao vây, truy kích, tiêu diệt cho nhiều sinh lực địch, tích cực trừ gian, diệt tề, củng cố và phát triển cơ sở mạnh mẽ, rộng lớn sau lưng địch, kịp thời tạo điều kiện lớn hơn nữa (Nguồn: Xem Công tác Đảng, công tác chính trị LLVT Quân khu IX, sđd, t. 1, tr 231-234). Như vậy, công tác gây dựng cơ sở cách mạng ở các thị xã, thị trấn, các nút giao thông quan trọng như bến phà Mỹ Thuận, Cần Thơ, các bến xe, tàu. Tại nội ô thị xã Cần Thơ còn gây dựng cơ sở trong công nhân thuộc khối hậu cần của quân đội Pháp, trong các trường, như trường đào tạo sĩ quan ở Bình Thủy (Cần Thơ), trường tân binh ở Rạch Sỏi (Rạch Giá)…
Ngày 30 tháng 4 năm 1954 Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Phân lien khu miền Tây xa1x định kế hoạch quân sự năm 1954 với các phần chính: (1) Nhận định tình hình Nam Bộ và phân lien khu miền Tây. (20 Kiểm điểm sự lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự năm 1953. (3) xây dựng Chương trình và Kế hoạch quân sự năm 1954 tập trung vào: nhiệm vụ “Giữ vững và xây dựng mạnh du kích chiến tranh…tích cực mở rộng ngụy vận và chống bắt lính”; Phương châm: “Chiến trường Nam Bộ hoàn toàn là chiến trường du kích, phương châm cơ bản là du kích chiến..”; Phương hướng hoạt động: “Tùy nơi mà có phương hướng cụ thể…” và “Tăng cường và củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang, trong đó có vấn đề giáo dục và huấn luyện…” (Nguồn: Xem Công tác Đảng, công tác chính trị LLVT Quân khu IX, sđd, t. 1, tr 234-237).
Tổng cộng trong 5 tháng của Chiến dịch Đông – Xuân năm 1954, phối hợp với chiến trường toàn quốc và Điện Biên Phủ, quân dân Tây Nam Bộ đã lập được thành tích lớn:
- Tiêu diệt nhiều sinh lực địch: 6.818 tên (có 1.181 hàng binh).
- San bằng 1.048 đồn bót, thu 1.658 súng các loại.
- Chuyển vùng trên 60 xã tạm chiếm thành xã du kích, có trên 300.000 dân (Nguồn: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1954) tr 284-285).
Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, quân và dân Việt Nam đã giành toàn thắng trên mặt trận Điện Biên Phủ. Toàn bộ chỉ huy và tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ do tướng De Castries cầm đầu bị bắt sống. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan Kế hoạch Navarre và góp phần quyết định vào thắng lợi của Hội nghị Genève, lập lại hòa bình ở Đông Dương (ngày 21-7-1954).
Ngay trong những ngày chiến đấu quyết liệt ở Điện Biên Phủ và đặc biệt là sau khi Điện Biên Phủ toàn thắng, tình hình chiến trường Tây Nam Bộ đã chuyển sang bước ngoặt mới. Quân đội Pháp co cụm lại khắp mọi nơi. Quân ta tranh thủ thời cơ, thừa thắng xông lên, tấn công trên khắp các mặt trận tạo ra một khí thế chủ động tiến công chưa từng có. Một tờ báo Pháp ở Genève là nơi đang diễn ra Hội nghị Genève về Đông Dương đã viết: “Không khí êm đềm của thành phố Genève như cũng muốn góp phần vào cuộc dàn xếp hòa bình. Nhưng hình như vẫn thấy vọng lại từ xa xăm trên 12 ngàn km những tiếng đại bác của Tướng Giáp và những bước chân dồn dập của quân đội Việt Minh”(10).
Tin chiến thắng Điện Biên Phủ và khắp nơi trên toàn quốc càng cổ vũ quân dân Tây Nam Bộ tiến lên tấn công địch, hướng tiến công chủ yếu là vùng tạm chiếm.
Đêm ngày 31-5 rạng sáng ngày 1-6-1954, Đội biệt động số 205 của Sài Gòn - Chợ Lớn tiến công kho đạn Phú Thọ Hòa, một kho đạn lớn nhất Đông Dương chứa trên 10 triệu lít xăng và 9.345 tấn bom đạn. Toàn bộ xăng và bom đạn đã cháy nổ suốt 2 ngày đêm. Trận tiêu diệt kho dự trữ chiến lược này là đón đánh mạnh vào “dạ dày” của địch giữa lúc địch đang thất bại trên khắp các chiến trường.
Ở Tây Nam Bộ, ngày 10-7-1954, ta đánh thiệt hại nặng trường sĩ quan Bình Thủy (Cần Thơ) và các trường tân binh ở Rạch Sỏi (Rạch Giá) và ở thị xã Sóc Trăng ta cũng đánh vào trung tâm huấn luyện của địch tại vàm Dù Tho. Trong 7 ngày kế tiếp, Cần Thơ và Sóc Trăng đánh bức hàng 48 đồn bót, tháp canh, diệt 200 tên địch, bắt 80 tên. Hầu hết các sóc Khmer được Pháp vũ trang đều tan rã. Các tỉnh từ Bến Tre, Vĩnh Trà đến Bạc Liêu, Rạch Giá cũ và Long Châu Hà đều lập được chiến công.
Lực lượng của tỉnh Long Châu Hà mở được một vùng rộng lớn từ Tân Hội ra Núi Sập, chạy thẳng tới lộ Mạc Cần Đưng. Ở Hà Tiên và Phú Quốc, địch chỉ đóng được ở thị xã Hà Tiên và thị trấn Dương Đông (Phú Quốc).
Tháng 3-1954, cùng với những cuộc tiến công dồn dập của các lực lượng vũ trang ở khắp nơi, những cuộc đấu tranh chính trị cũng bùng nổ ngay ở những trung tâm đầu não của quân đội Pháp. Tại Mỹ Tho, Cần Thơ…đã tuần hành hưởng ứng cuộc đấu tranh chính trị tại Sài Gòn do 325 nhân sĩ trí thức có tên tuổi như: kĩ sư Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đình Thảo, dược sĩ Trần Kim Quan, Nguyễn Văn Vĩ…, đồng kí tên vào một bản Tuyên ngôn đòi Chính phủ Pháp phải thương thuyết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Tiếp theo, ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc ở Genève (Thụy Sĩ). Do thái độ thiếu thiện chí của Chính phủ Laniel - Bidault, Hội nghị lâm vào bế tắc. Vì vậy, tháng 6-1954, 500 nhà trí thức, nhân sĩ, nhà báo và văn nghệ Sài Gòn - Chợ Lớn có sự tham gia của một số phóng viên hoạt động tại Tây Nam Bộ đã gửi đến các phái đoàn tham dự Hội nghị Genève một kiến nghị yêu cầu Chính phủ Pháp phải có thái độ thành thật trong thương thuyết để nhanh chóng lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương.
Một thành quả quan trọng khác của đông xuân 1953 - 1954 ở Tây Nam Bộ là ta đã mở rộng được nhiều vùng giải phóng thuộc các tỉnh Vĩnh Trà, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Gò Công, Mỹ Tho, Long Châu Hà, Bạc Liêu, Cà Mau... với hàng chục vạn người dân trở về vùng tự do…. 
2.3. Những bài học kinh nghiệm quân và dân Tây nam Bộ chia lửa với mặt trận Điện Biên Phủ.
Chính tinh thần cách mạng tiến công, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần tự lực tự cường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tây Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi ở mặt trận Điện Biên Phủ. Vì vậy, cho dù kẻ thù biết rõ về ta, chúng lại có ưu thế về không quân, pháo binh nhưng cũng đành chịu thất bại. Nhờ có hậu phương vững mạnh, có sự đóng góp to lớn của nhân dân, sự chia lửa giữa các chiến trường, sự động viên, chi viện đắc lực của cả dân tộc và bạn bè quốc tế... mà chúng ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
Đặc biệt, chiến trường Tây Nam Bộ đầy gian khổ và vô cùng ác liệt, ở xa Trung ương, nhưng quân và dân Tây Nam Bộ luôn hướng về Đảng, Bác Hồ kính yêu, đã không quản ngại hy sinh, can trường, dũng cảm, thông minh, linh hoạt, quyết chiến, quyết thắng và đã giành được những thắng lợi vẻ vang trong nhiệm vụ chính mà Đảng, Bác Hồ và Trung ương giao phó trong chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954.
Chiến trường Tây Nam Bộ nói riêng và cả miền Nam nói chung không như chiến trường miền Trung và Bắc Bộ từ “phòng ngự, cầm cự, phản công” mà ở Tây Nam bộ  lúc nào kháng chiến cũng tiến công, do so sánh lực lượng qui định mức tiến công. Tây Nam Bộ kháng chiến có thể chia ra làm 2 thời kỳ, thời kỳ đầu chủ yếu là tự lực, thời kỳ sau là cùng cả nước san sẻ “chia lửa” cùng nhau như: Trung ương quyết định “Nam tiến” hỗ trợ cho Miền Nam trong đó có Tây Nam Bộ; các chiến trường khác cùng “chia lửa” với tây Nam Bộ và ngược lại tây Nam Bộ cũng chia lửa với các chiến trường khác, nhất là với chiến trường chính Điện Biên Phủ tạo thành một bản hòa tấu nhịp nhàng, căng thế trận da beo đánh địch mọi nơi, mọi chỗ làm cho địch luôn ở thế bị động, bất ngờ nhất; góp phần cùng với cả nước và chiến trường Điện Biên Phủ giành chiến thắng lịch sử, vĩ đại.
Mặt khác, cốt lõi của thành quả ấy là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chỉ đạo chiến lược  chống lại Thực dân Pháp xâm lược. Đó cũng là sự sáng tạo và nhạy bén ứng xử của Đảng, quân và dân tây Nam Bộ với các tình huống, là phát huy trí tuệ của cả cộng đồng, là thực hiện dân chủ có hệ thống từ trong Đảng đến ngoài xã hội: ý Đảng - lòng dân; quân với dân như cá với nước, sống chan hòa…là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, chống lại chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh viện, là tận dụng và phát huy khả năng của con người, là tìm chỗ đông nhất trong cộng đồng thay cho khoét sâu mặt khác biệt. Ngoài ra, còn thể hiện nhiều đặc thù, thực tiễn của từng địa phương trên chiến trường Tây Nam Bộ, vẫn trên cơ sở của sự kết tinh trí tuệ, tâm tưởng dân tộc Việt Nam, là kết quả của sự kế thừa và phát triển của văn hóa Việt Nam thể hiện trên vùng đất Tây Nam Bộ để hoàn thành nhiệm vụ mà Trung ương Đảng, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN, Bác Hồ và nhân dân cả nước giao phó, nhất là “chia lửa” cùng với các chiến trường khác, với Điện Biên Phủ.
Ngoài ra, quân và dân Nam Bộ không chỉ hướng về Ðiện Biên Phủ bằng những hành động chiến đấu phối hợp chiến trường mà còn gửi cả những tình cảm chân thành đến động viên các chiến sĩ đang chịu đựng gian khổ, đang "khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt..." trực tiếp chiến đấu ở Ðiện Biên Phủ. Một phong trào gửi thư, gửi điện cho chiến sĩ Ðiện Biên Phủ đã được phát động ở tất cả các đoàn thể, tổ chức quần chúng cách mạng như Hội Phụ nữ, Thanh niên, Phụ lão, Nông hội... Khẳng định lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối :Chiến tranh nhân dân” mà Đảng và Bác hồ phát động. Mặt khác cũng làm rõ thêm Đảng, quân và dân Tây Nam Bộ không chỉ tiến công địch trên mặt trận vũ trang, tiến công bằng binh vận, bằng đấu tranh chính trị, bằng ngoại giao mà còn trên mặt trận tư tưởng và văn hóa. Khẳng định hào khí Nam Bộ trong “Nam Kỳ khởi nghĩa 1940” nay được phát huy vào cuộc chiến đấu với thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Những điều này được thể hiện qua các phong trào cách mạng trong vùng kháng chiến, vùng tự do…Đảng, Chính quyền, đoàn thể các cấp luôn quan tâm, dù đeang chiến tranh nhưng công tác văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường; công tác giáo dục; xây dựng cuộc sống mới văn minh, đoàn kết giữa các tôn giáo, dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ vẫn phát triển tốt, được quần chúng tin theo và hưởng ứng.
Đó còn là công tác Đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, các đoàn thể và quần chúng nhân dân; qua việc khắc phục khuynh hướng, quan điểm lệch lạc coi đấu tranh vũ trang bằng những lực lượng lớn quân đội chính quy. Bằng các cuộc chỉnh đốn Đảng, các lực lượng vũ trang, các đoàn thể quần chúng…để không ngừng việc nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù. Từ đó có kế hoạch đối phó và luôn trên tư thế tiến công địch, góp phần nhỏ cùng quân dân cả nước làm thất bại chiến lược “bình định đặc biệt” của thực dân Pháp trên vùng Tây Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chuẩn bị “tổng phản công” mặt trận chính Điện Biên Phủ.
Như vậy, với việc tiến công rộng, nhịp độ tiến công liên tục và toàn diện cả về quân sự, chính trị, văn hóa… của ta, quân địch ở Tây Nam Bộ đã bị dồn vào thế chống đỡ, bị động, chúng không còn khả năng chủ động mở những cuộc càn quét quy mô lớn vào các vùng giải phóng như đầu năm 1953, tình trạng ấy cũng có nghĩa là địch không thể sử dụng được tiềm năng sức người, sức của ở Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng để chi viện cho chiến trường chính Bắc Bộ, mà ngược lại đã làm cho những người chỉ huy cao nhất của Pháp phải lúng túng vì đối phương tiến công liên tục ngay ở hậu phương quan trọng nhất của chúng ở Ðông Dương, đồng thời còn là nơi có quyền lợi của Mỹ mà Pháp phải bảo vệ để đổi lấy viện trợ vũ khí cho chiến trường đang bị nguy khốn ở Bắc Bộ. Quân và dân Tây Nam Bộ đã thực hiện lời dạy của Bác Hồ, sự chỉ đạo của Trung ương Ðảng “phân tán kẻ thù ra mà tiêu diệt”, trở thành biểu tượng rực sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng góp phần thiết thực với Ðiện Biên Phủ, với cả nước. 
3.Kết luận
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Tây Nam Bộ vừa là chiến trường, vừa là là hậu phương trực tiếp của chiến trường Nam Bộ. Với phương châm là “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ” với phương thức tiến hành là “chiến tranh nhân dân” lấy “Chiến tranh du kích và du kích chiến tranh” là chính, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quân và dân Tây Nam Bộ đã chia lửa với các chiến trường trong cả nước với tinh thần: Chiến trường nào cần, Tây Nam Bộ trả lời và ngược lại, trong đó quân và dân Tây Nam Bộ đã chia lửa với chiến trường Điện Biên Phủ góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam:
                           “ Chín năm làm một Điện Biên,
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng!”(Tố Hữu)
Âm vang Điện Biên Phủ đã lan tỏa trên các mạch sống của nhân dân vùng Tây Nam Bộ nói chung và lực lượng vũ trang vùng Tây Nam Bộ nói riêng tạo nên nguồn lực tiếp sức cho quân và dân Tây Nam Bộ cùng quân và dân cả nước tiếp tục chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược và hôm nay rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và cả mai sau./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.Trong bài có trích nguồn một số tài liệu sau:
 (1) Báo cáo kết luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị Chiến dịch Đông - Xuân ngày 23-11-1953 (Trích trong Báo cáo các kế hoạch và tổng kết kinh nghiệm các chiến dịch lớn, tập III: Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1965, tr. 15-16).
(2) H. Navarre: Đông Dương hấp hối, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1956, tr. 227.
(3) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14, tr. 20.
(4) Văn kiện Đảng Toàn tập ….Sđd, t.14, tr. 21
(5) Lịch sử kháng chiến chống Pháp, sđd, t.V, 49.
(6) (7) và (8) Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia; Trung ương cũng đề ra cho Nam Bộ ba nhiệm vụ chính của năm 1954:
Sđd, tr.123-131, 416 và 417.
 (9) Guy Mettan: Genève, sđd, p.117.
(10) ) H. Navarre: Đông Dương hấp hối, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1956, tr 38-39.
B. Tài liệu tham khảo chính:
1. Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 19 tháng 4 năm 1954.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđdt.11.
3. Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb QĐND, Hà Nội, 1974, tr.158 - 159. 
4.Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14

5. Bộ Tư lệnh QK 9: Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến 1945-1975, NXb QĐND, HN, 1996.
6. Nava, Đông Dương hấp hối, Pari, 1956.
7. Lịch sử 30 năm giải phóng của 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL.
8. Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1954), tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, 2008.
9. Tài liệu: “Công tác Đảng, công tác chính trị LLVT Quân khu IX, t. 1,            lưu tại Phòng Lịch sử Quân sự, Quân Khu 9.

Bài đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Chiến thắng Điện Biên Phủ và những vấn đề lịch sử” – Tập 3, trang 53 – NXB Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh; Ngày 5 -6/5/2014 tại Trường Đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.